English  
 
Trang chủ arrow Đảng bộ arrow - Đảng ủy arrow Báo cáo chính trị Đại hội Đảng bộ
Báo cáo chính trị Đại hội Đảng bộ

                            

PHÁT HUY SỨC MẠNH TỔNG HỢP,

CHỦ ĐỘNG HỘI NHẬP QUỐC TẾ, XÂY DỰNG THÀNH CÔNG

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC -  ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

( Báo cáo của BCH lâm thời Đảng bộ Trường Đại học Giáo dục

tại Đại hội Đảng bộ lần thứ I )

 

Thực hiện hướng dẫn của Đảng ủy Đại học Quốc gia Hà Nội (ĐHQGHN) tổ chức đại hội Đảng các cấp, tiến tới đại hội đại biểu Đảng bộ ĐHQGHN lần thứ IV, được sự chỉ đạo và đồng ý của Thường vụ Đảng ủy ĐHQGHN, Đảng bộ Trường Đại học Giáo dục tổ chức đại hội Đảng bộ lần thứ I.

Đại hội Đảng bộ Trường Đại học Giáo dục lần thứ I diễn ra vào thời điểm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Các cấp bộ đảng tổ chức đại hội tiến tới đại hội đại biểu Đảng bộ ĐHQGHN lần thứ IV, đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố Hà Nội lần thứ XV, đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ XI, toàn thể cán bộ, sinh viên Trường Đại học Giáo dục đang ra sức thi đua trong các lĩnh vực hoạt động của nhà trường, thiết thực kỷ niệm các ngày lễ trọng đại của đất nước trong năm 2010 và đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội.

Đại hội đảng bộ Trường Đại học Giáo dục lần thứ I có nhiệm vụ đánh giá tình hình thực hiện nghị quyết đại hội Chi bộ Khoa Sư phạm, tiền thân của Đảng bộ Trường Đại học Giáo dục nhiệm kỳ 2005 - 2010; quyết định phương hướng, mục tiêu phát triển, các nhiệm vụ chính trị của nhà trường nhiệm kỳ 2010 - 2015; bầu Ban chấp hành Đảng bộ nhiệm kỳ 2010 - 2015; thảo luận, góp ý kiến cho dự thảo các văn kiện đại hội Đảng cấp trên và bầu đoàn đại biểu tham dự đại hội đại biểu Đảng bộ ĐHQGHN lần thứ IV.

Trong quá trình chuẩn bị Báo cáo chính trị, các chi bộ Đảng và đông đảo cán bộ, đảng viên đã đóng góp nhiều ý kiến đầy tâm huyết và sâu sắc, thể hiện ý chí, nguyện vọng và quyết tâm xây dựng và phát triển Trường Đại học Giáo dục sớm trở thành trường đại học nghiên cứu ngang tầm khu vực, tạo những tiền đề hết sức quan trọng và cần thiết để trong tương lai phát triển đạt trình độ quốc tế theo lộ trình chung của ĐHQGHN. Báo cáo này là sự kết tinh trí tuệ và ý chí của toàn thể cán bộ, đảng viên Trường Đại học Giáo dục. Ban chấp hành lâm thời Đảng bộ Trường Đại học Giáo dục trân trọng báo cáo, trình Đại hội Đảng bộ nhà trường.

Phần thứ nhất

TÌNH HÌNH THỰC HIỆN NHIỆM VỤ CỦA ĐẢNG BỘ

NHIỆM KỲ 2005 - 2010


1. Đặc điểm tình hình

Chi bộ Khoa Sư phạm - tiền thân của Đảng bộ Trường Đại học Giáo dục thành lập ngày 26/4/2002 theo Quyết định số 34/QĐ-ĐU của Đảng ủy ĐHQGHN và Đảng bộ Trường Đại học Giáo dục được thành lập theo Quyết định số 144 - QĐ/ĐU ngày 22/7/2009 của Đảng ủy ĐHQGHN (sau đây gọi chung là Đảng bộ Trường Đại học Giáo dục).

Hiện nay, Đảng bộ Trường Đại học Giáo dục có 4 chi bộ đảng, bao gồm 49 đảng viên, trong đó có 38 đảng viên chính thức và 11 đảng viên dự bị; 38 đảng viên là cán bộ, giảng viên và 11 đảng viên là sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh. Ban chấp hành lâm thời gồm 05 đồng chí đều là cán bộ chủ chốt. Mặc dù mới thay đổi về cơ cấu tổ chức, nhưng với tinh thần trách nhiệm cao của Đảng ủy và các đảng viên trong toàn Đảng bộ, các nhiệm vụ trọng tâm của Đảng bộ đã được triển khai liên tục và hoàn thành thắng lợi các chỉ tiêu công tác đã đề ra theo tiến độ.

Đại hội Chi bộ Khoa Sư phạm lần thứ II - tiền thân của Đảng bộ Trường Đại học Giáo dục  đã xác định mục tiêu chiến lược đến năm 2010 là: Phát huy các nguồn lực, tranh thủ các điều kiện thuận lợi, đẩy nhanh việc củng cố, tạo những tiền đề vững chắc xây dựng Khoa Sư phạm trở thành Trường Đại học Giáo dục và phấn đấu trở thành cơ sở đào tạo giáo viên và các nhà giáo dục, nghiên cứu khoa học chất lượng cao trong lĩnh vực giáo dục theo mô hình mới, góp phần tích cực và hiệu quả vào việc phát triển ĐHQGHN trở thành trung tâm đào tạo và nghiên cứu khoa học đa ngành, đa lĩnh vực, chất lượng cao, góp phần thiết thực vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Để thực hiện mục tiêu chiến lược này, Nghị quyết Đại hội Chi bộ Khoa Sư phạm lần thứ II đã xác định các nhiệm vụ chiến lược: Tạo được vị thế của Khoa Sư phạm (tiền thân Trường Đại học Giáo dục) và Trường Đại học Giáo dục về chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học trong ĐHQGHN và trong hệ thống các trường sư phạm toàn quốc, xây dựng nền tảng vững chắc để đạt chất lượng trong lộ trình nâng cao chất lượng ở giai đoạn tiếp theo, tạo điều kiện để phát triển nhà trường theo mô hình đại học nghiên cứu thuộc ĐHQGHN.

Mục tiêu chiến lược này đã được hiện thực hóa từ ngày 03/4/2009, Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập Trường Đại học Giáo dục trên cơ sở nâng cấp Khoa Sư phạm trực thuộc ĐHQGHN.

Trong quá trình triển khai nghị quyết đại hội, thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ chiến lược phát triển, Đảng bộ nhà trường có những thuận lợi và khó khăn khách quan và chủ quan.

1.1. Những thuận lợi cơ bản

- Đảng, Nhà nước và Bộ Giáo dục - Đào tạo có nhiều chủ trương, chính sách đổi mới phát triển giáo dục; đã chỉ rõ phương hướng phát triển của ngành giáo dục và đào tạo trong bối cảnh mới. ĐHQGHN có chủ trương và chỉ đạo sát sao về đổi mới cơ chế quản lý, quản trị đại học trên cơ sở phát huy tính liên thông, liên kết để phát huy sức mạnh tổng hợp của một trung tâm đào tạo, nghiên cứu khoa học đa ngành, đa lĩnh vực, chất lượng cao.

- Việc thành lập Trường Đại học Giáo dục trên cơ sở Khoa Sư phạm đã và đang tạo ra thời cơ mới, vận hội mới cho sự hình thành và phát triển một hướng đi đúng đắn của mô hình đào tạo tiên tiến ở Việt Nam. Trường Đại học Giáo dục được thành lập trong bối cảnh ĐHQGHN đang đẩy mạnh lộ trình nâng cao chất lượng đạt chuẩn khu vực và quốc tế, đổi mới mạnh mẽ cơ chế quản lý theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.

- Đội ngũ cán bộ của Trường Đại học Giáo dục tăng nhanh về số lượng, luôn đoàn kết và có tinh thần chủ động, sáng tạo, đang ở độ tuổi sung sức cả về thể lực lẫn năng lực công tác.

- Chi bộ Khoa Sư phạm trước đây và Đảng bộ Trường Đại học Giáo dục hiện nay luôn nhận được sự quan tâm chỉ đạo sâu sát của các cấp lãnh đạo, trực tiếp là lãnh đạo ĐHQGHN, sự quan tâm ủng hộ, giúp đỡ của các Ban đảng và các Ban chức năng của ĐHQGHN, các trường đại học thành viên, các đơn vị trực thuộc ĐHQGHN, sự ủng hộ và tham gia tích cực của các nhà khoa học, nhà giáo dục trong và ngoài nước trong các hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học, đáp ứng nhu cầu xã hội.

- ĐHQGHN đang tăng cường liên thông, liên kết các đơn vị thành viên, xây dựng "văn hóa cộng đồng Đại học Quốc gia Hà Nội", "thương hiệu Đại học Quốc gia Hà Nội" trong triển khai các hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học đỉnh cao. Thực hiện tốt chủ trương này sẽ tạo cơ hội cho việc hiện thực hóa tư tưởng liên thông của quy trình đào tạo theo tín chỉ đang được triển khai ở Trường Đại học Giáo dục và các trường thành viên ĐHQGHN.

1.2. Một số khó khăn chủ yếu

- Mô hình đào tạo giáo viên theo mô hình mở (3+1) đòi hỏi có sự phối hết hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa các đơn vị trong ĐHQGHN. Đây là thách thức lớn nhất đối với việc triển khai mô hình đào tạo mới trong bối cảnh chưa có tiền lệ trong hệ thống giáo dục đại học nước ta, hơn nữa chưa có văn hóa liên thông, liên kết mạnh trong quản lý ở ĐHQGHN nói riêng và ở Việt Nam nói chung.

- Đội ngũ cán bộ cơ hữu đang trong quá trình xây dựng và phát triển còn hạn chế: số lượng và chất lượng không đồng đều, còn thiếu các chuyên gia đầu ngành về một số lĩnh vực đào tạo.

- Cơ sở vật chất còn hạn chế, thiếu mặt bằng cho các hoạt động giảng dạy, học tập, nghiên cứu khoa học và quản lý, điều hành nhà trường.

2. Đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội nhiệm kỳ 2005 - 2010

2.1. Phát huy sức mạnh đoàn kết, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác chính trị tư tưởng đáp ứng yêu cầu xây dựng và phát triển nhà trường

Trong nhiệm kỳ 2005 - 2010, Đảng bộ Trường Đại học Giáo dục xác định công tác chính trị tư tưởng là nhiệm vụ quan trọng thường xuyên. Đảng bộ đã lãnh đạo đơn vị phát huy sức mạnh đoàn kết, bản lĩnh chính trị trước những thách thức, khó khăn, tạo sự đồng thuận, thống nhất trong nhận thức và hành động của toàn thể cán bộ, đảng viên vì mục tiêu xây dựng và phát triển Khoa Sư phạm thành Trường Đại học Giáo dục, góp phần thiết thực và hiệu quả vì sự nghiệp xây dựng và phát triển ĐHQGHN.

Ngay sau khi thành lập Trường Đại học Giáo dục, Đảng bộ đã chỉ đạo nhà trường tiếp tục gắn kết công tác chính trị tư tưởng với việc thực hiện cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh", gắn việc thực hiện cuộc vận động này với các hoạt động chuyên môn, xây dựng đơn vị vững mạnh về mọi mặt, thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị, tăng cường đoàn kết, giữ gìn phẩm chất đạo đức nghề nghiệp, kiện toàn hệ thống tổ chức theo đề án thành lập Trường Đại học Giáo dục đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Do có sự quan tâm làm tốt công tác chính trị tư tưởng cho nên đội ngũ cán bộ, đảng viên của nhà trường trong năm qua đã thể hiện rõ ý thức trách nhiệm trong công tác, nghiêm chỉnh thực hiện điều lệ Đảng, đấu tranh với những luận điệu xuyên tạc, thông tin sai lệch về các chủ trương, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các quy chế, quy định của ĐHQGHN và của nhà trường.

Đảng bộ đã chỉ đạo các chi bộ thực hiện tốt chế độ tự phê bình và phê bình, kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội, cá nhân; giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ, thực hiện tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách; đề cao tính tổ chức và kỷ luật trong sinh hoạt Đảng; tạo điều kiện cho cán bộ, đảng viên phải trực tiếp tham gia đóng góp ý kiến xây dựng kế hoạch chiến lược phát triển nhà trường, các vấn đề quan trọng trong việc triển khai thực hiện nhiệm vụ hàng năm, nhất là những vấn đề liên quan đến cơ chế quản lý, chế độ chính sách cán bộ.

Thông qua theo dõi sinh hoạt của các chi bộ, Đảng bộ nắm bắt kịp thời diễn biến tư tưởng của đảng viên và quần chúng, giúp các chi bộ tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị tại đơn vị. Đảng ủy và Ban Giám hiệu còn tổ chức theo quý các cuộc đối thoại trực tiếp với cán bộ, đảng viên, tuyên truyền giải thích chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, chủ trương của ĐHQGHN và vận động cán bộ, viên chức tự giác chấp hành; đồng thời chỉ đạo các khoa, phòng chức năng giải quyết kịp thời những kiến nghị chính đáng của quần chúng. Vì vậy trong những năm qua, nhà trường không có tình trạng khiếu kiện, không để xảy ra hiện tượng mất đoàn kết.

Đảng bộ lãnh đạo, chỉ đạo đơn vị thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần và bảo vệ lợi ích chính đáng của cán bộ, viên chức; phối hợp với Trung tâm Hỗ trợ Sinh viên, ký túc xá Mễ Trì thực hiện tốt công tác sinh viên theo chỉ đạo của ĐHQGHN, đảm bảo trật tự an toàn trong đơn vị trong điều kiện cơ sở vật chất giảng đường, lớp học, khu hiệu bộ phân tán ở nhiều địa điểm cách xa nhau.

Mặc dù đã được triển khai thực hiện nghiêm túc và đã đạt được những kết quả khả quan, song công tác chính trị tư tưởng đôi lúc chưa theo kịp trước những yêu cầu thực tiễn xây dựng và phát triển đơn vị trong những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của ĐHQGHN, chưa chủ động và linh hoạt, do đó hiệu quả công tác chưa cao. Việc đào tạo, bồi dưỡng bản lĩnh chính trị và đạo đức nghề nghiệp trong bộ phận đảng viên sinh viên chưa được thường xuyên, liên tục.

2.2. Nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác tổ chức cán bộ, xây dựng văn hoá chất lượng đồng hành với đẩy mạnh các hoạt động đảm bảo chất lượng

            Nghị quyết đại hội nhiệm kỳ 2005 - 2010 đã chỉ rõ mục tiêu là phát huy thể mạnh và tiềm năng của tất cả cán bộ, đảng viên, huy động đội ngũ các chuyên gia đầu ngành về các lĩnh vực đào tạo tham gia giảng dạy và nghiên cứu khoa học; nâng cao chất lượng và hiệu quả của bộ máy quản lý theo cơ chế mới, xây dựng văn hóa đánh giá dựa vào việc thực hiện các mục tiêu của công việc và mức độ hoàn thành có hiệu quả nội dung công việc được giao.

            Để thực hiện muc tiêu trên, Đảng bộ đã chỉ đạo xây dựng chiến lược về công tác tổ chức và chương trình phát triển đội ngũ cán bộ trong từng giai đoạn, làm tốt công tác quy hoạch cán bộ cho các vị trí trong tương lai. Chỉ đạo bổ sung cán bộ theo tiêu chuẩn quy định của ĐHQGHN và kế hoạch phát triển đội ngũ cán bộ của Trường Đại học Giáo dục.

            Đảng bộ lãnh đạo, chỉ đạo nhà trường kiện toàn hệ thống tổ chức ngay sau khi có quyết định của Thủ tướng Chính phủ thành lập Trường Đại học Giáo dục. Hiện nay, nhà trường có 3 khoa đào tạo, 4 phòng chức năng, 6 trung tâm nghiên cứu và dịch vụ. Đảng ủy đã lãnh đạo, chỉ đạo nhà trường sớm xây dựng và ban hành các văn bản quy phạm nội bộ (Quy định về tổ chức và hoạt động Trường Đại học Giáo dục, Quy định về tin học hóa công tác quản lý và điều hành ở Trường Đại học Giáo dục, Quy định về việc thực hiện các hoạt động đảm bảo chất lượng ở Trường Đại học Giáo dục...), đáp ứng yêu cầu công tác quản lý nhà trường trong những điều kiện mới; lãnh đạo, chỉ đạo các đơn vị triển khai xây dựng văn hóa chất lượng, văn hóa của tổ chức biết học hỏi, trong đó mọi thành viên sẵn sàng chia sẻ, sẵn sàng làm việc hiết mình vì tổ chức.

            Tuy nhiên, công tác phát triển đội ngũ cán bộ nhìn chung chưa đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ đào tạo và nghiên cứu khoa học trình độ cao, chất lượng cao. Đội ngũ cán bộ cơ hữu còn mỏng, đặc biệt là cán bộ đầu ngành và cán bộ quản lý giỏi. Các giải pháp về công tác cán bộ chưa đủ mạnh và đồng bộ. Công tác cán bộ vẫn là vấn đề vừa cấp bách vừa lâu dài trong quá trình phát triển Trường Đại học Giáo dục.

2.3. Nâng cao chất lượng đào tạo, gia tăng giá trị nghiên cứu khoa học, khẳng định vị thế nhà trường trong hệ thống các cơ sở đào tạo giáo viên ở Việt Nam

            Quán triệt sâu sắc quan điểm "Nhà giáo trước hết phải là nhà khoa học", Đảng bộ đã lãnh đạo, chỉ đạo nhà trường thực hiện có hiệu quả mô hình đào tạo mở  "đan xen - kế tiếp", khai thác thế mạnh của ĐHQGHN - trung tâm đại học đa ngành, đa lĩnh vực hàng đầu của cả nước, đặc biệt về khoa học cơ bản để đào tạo "Người Thầy cho ngày mai".

            Đảng bộ đã chỉ đạo thực hiện các giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo, gắn kết chặt chẽ đào tạo, đặc biệt là đào tạo sau đại học với nghiên cứu khoa học. Đến năm học 2009 - 2010, Trường Đại học Giáo dục đã đào tạo gần 1.000 cử nhân hệ chính quy thuộc 6 chuyên ngành (trong đó có gần 20% tốt nghiệp loại giỏi); triển khai 08 khóa đào tạo tiến sĩ với 85 nghiên cứu sinh chuyên ngành Quản lý Giáo dục, trong đó có 17 nghiên cứu sinh đã bảo vệ thành công luận án cấp Nhà nước, được công nhận học vị tiến sĩ và trao bằng Tiến sĩ Quản lý Giáo dục; triển khai đào tạo 906 học viên cao học bao gồm 09 khóa đào tạo thạc sĩ chuyên ngành Quản lý Giáo dục, 05 khóa đào tạo thạc sĩ chuyên ngành Lý luận và Phương pháp dạy học Toán, Vật lý, Hóa học, Sinh học; 02 khóa đào tạo thạc sĩ chuyên ngành Lý luận và Phương pháp dạy học Ngữ Văn, Lịch sử; xây dựng 01 chuyên ngành đào tạo thạc sĩ chuyên ngành Tâm lý học lâm sàng trẻ em và vị thành niên và đã tổ chức tuyển sinh khóa I của chuyên ngành này; đến nay đã có 415 học viên cao học hoàn thành chương trình đào tạo và được công nhận học vị và cấp bằng Thạc sĩ.

            Đảng bộ đã lãnh đạo, chỉ đạo nhà trường mở rộng hợp tác quốc tế trong đào tạo và nghiên cứu khoa học, tăng cường các chương trình liên kết đào tạo quốc tế với các đối tác có uy tín. Hiện nay, ngoài các chương trình liên kết đào tạo thạc sĩ Lãnh đạo và Quản lý Giáo dục, thạc sĩ Ngôn ngữ học Anh với Đại học Dalarna (Thụy Điển), chương trình đào tạo thạc sĩ Tâm lý học và Thực hành hướng nghiệp với học viện quốc gia nghiên cứu lao động và hướng nghiệp (Pháp), chương trình đào tạo thạc sĩ Quản lý Hệ thống Thông tin với Đại học Shu-Te (Đài Loan), chương trình đào tạo thạc sĩ Tâm lý học sức khỏe tâm thần trẻ em và vị thành niên với Đại học Vanderbilt (Hoa Kỳ), Đảng ủy đang chỉ đạo nhà trường xây dựng chương trình liên kết đào tạo Thạc sĩ Quản lý Xã hội với Đại học Đông Bắc (Trung Quốc) theo đề án 165 của Ban Tổ chức Trung ương. Thông qua các hoạt động hợp tác quốc tế trong đào tạo và nghiên cứu khoa học để từng bước hoàn thành mục tiêu sứ mạng của nhà trường là có các chuyên ngành đào tạo đạt chuẩn khu vực và quốc tế.

            Cùng với lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện các giải pháp nêu trên, Đảng bộ đã chỉ đạo điều chỉnh và hoàn thiện khung chương trình đào tạo theo tín chỉ, triển khai biên soạn bài giảng, giáo trình. Hoàn thiện chuyển đổi 06 chương trình đào tạo cử nhân hệ chính quá (cử nhân sư phạm Toán, Vật lý, Hóa học, Sinh học, Ngữ Văn, Lịch sử) và 05 chương trình đào tạo sau đại học các chuyên ngành Lý luận và Phương pháp dạy học bộ môn và Quản lý Giáo dục sang phương thức đào tạo theo tín chỉ. Xây dựng chương trình chi tiết các môn học thuộc khối kiến thức nghiệp vụ sư phạm; đang triển khai hoàn thiện, cập nhật đề cương bài giảng và tiến tới biên soạn toàn bộ các tập bài giảng, giáo trình môn học theo chương trình chi tiết đã được phê duyệt và tổ chức in ấn, xuất bản. Chỉ đạo thực hiện lập hồ sơ môn học cho từng môn.

            Nghiên cứu khoa học trong sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh luôn được quan tâm phát triển cả về số lượng và chất lượng, được coi là một giải pháp quan trọng nhằm nâng cao chất lượng đào tạo. Số lượng đề tài nghiên cứu khoa học của sinh viên tăng nhanh. Nhiều công trình nghiên cứu của sinh viên đã góp phần giải quyết thành công những nội dung thuộc các đề tài nghiên cứu khoa học do các cán bộ hướng dẫn chủ trì. Sau nhiều năm phấn đấu, sinh viên Trường Đại học Giáo dục đoạt giải ba Giải thưởng nghiên cứu khoa học sinh viên năm 2009 do Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức (năm 2008 đoạt giải khuyến khích); đoạt Huy chương Bạc về nội dung sáng tạo đồ dùng dạy học tự làm tại Hội thi nghiệp vụ sư phạm toàn quốc lần thứ IV năm 2009.

            Đảng bộ đã lãnh đạo, chỉ đạo nhà trường triển khai mạnh mẽ hoạt động nghiên cứu khoa học, đặc biệt quan tâm, khuyến khích gia tăng giá trị nghiên cứu khoa học, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục đại học và hội nhập quốc tế. Đến cuối năm 2009, Trường Đại học Giáo dục đã thực hiện 18 đề tài cấp ĐHQGHN, trong đó có 5 đề tài trọng điểm, đặc biệt. Riêng 2010, Trường đang triển khai thực hiện 8 đề tài theo định hướng ưu tiên nghiên cứu về quản lý giáo dục, khoa học tâm lý, giáo dục.

            Trong những năm qua, Đảng ủy đã lãnh đạo, chỉ đạo nhà trường tổ chức thành công nhiều hội nghị, hội thảo quốc tế; đặc biệt, riêng năm 2009 tổ chức thành công 02 hội thảo quốc tế nhân dịp kỷ niệm 10 năm ngày truyền thống nhà trường "Chính sách đối với nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục trong tiến trình đổi mới giáo dục", "Ngành giáo dục công tác xã hội ở Việt Nam: Thực tiễn và Đổi mới".

            Các hoạt động khoa học thường xuyên được duy trì tốt. Các khoa đào tạo thường xuyên tổ chức xêmina khoa học với sự tham gia đông đảo cán bộ giảng dạy trong trường và các chuyên gia nước ngoài, tạo môi trường học thuật hết sức thuận lợi cho cán bộ giảng dạy.

            Công tác in ấn tài liệu giảng dạy, học tập và các ấn phẩm khoa học công nghệ được quan tâm thực hiện thường xuyên, đáp ứng yêu cầu đào tạo chất lượng cao, trình độ cao. Riêng năm học 2009 - 2010, theo số liệu thống kê, đến nay nhà trường phối hợp với Nhà Xuất bản ĐHQGHN đã hoàn thành xuất bản 6 giáo trình và 11 tuyển tập bài giảng môn học; tổ chức biên dịch 1 cuốn sách tiếp cận phạm tương tác (được nhượng bản quyền) - thành tích rất đáng ghi nhận chào mừng kỷ niệm 10 năm ngày truyền thống (21/12/1999 - 21/12/2009).

            Công tác quản lý nghiên cứu khoa học không ngừng được quan tâm chỉ đạo của Đảng ủy, từng bước đổi mới đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của ĐHQGHN. Thực hiện chủ trương của Đảng ủy, nhà trường đang tích cực triển khai xây dựng một số nhóm nghiên cứu mạnh về quản lý giáo dục, khoa học tâm lý, giáo dục, công nghệ dạy học tiên tiến.

            Tuy nhiên, hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học vẫn còn có một số hạn chế. Cho đến nay, nhà trường chưa có chương trình đào tạo thuộc nhiệm vụ chiến lược của ĐHQGHN (nhiệm vụ 16+23). Giải pháp có tính đột phá trong quá trình triển khai lộ trình nâng cao chất lượng đào tạo chưa nhiều, đặc biệt là các giải pháp nâng cao chất lượng nguồn tuyển sinh đầu vào đại học, thu hút học sinh giỏi từ các trường THPT vào học còn hạn chế. Hệ thống văn bản quy phạm nội bộ về lĩnh vực  đào tạo từ Khoa Sư phạm trước đây chưa kịp thời điều chỉnh cho phù hợp với mô hình tổ chức trường đại học hiện nay. Phần mềm quản lý đào tạo theo tín chỉ chưa được triển khai sâu rộng và triệt để. Hiệu quả các hoạt động nghiên cứu khoa học trong học viên cao học, nghiên cứu sinh còn hạn chế, chưa tương xứng với tiềm năng.

Quy mô và chất lượng nghiên cứu khoa học còn hạn chế, biểu hiện cụ thể là chưa có công trình hoặc cụm công trình khoa học đoạt Giải thưởng công trình khoa học tiêu biểu (ĐHQGHN xét duyệt hàng năm) và Giải thưởng Khoa học - Công nghệ ĐHQGHN (5 năm xét thưởng một lần); một số đề tài, dự án hoàn thành chậm tiến độ; các văn bản quy phạm nội bộ về hoạt động khoa học - công nghệ chậm ban hành.         

2.4. Đẩy mạnh liên thông, liên kết với các đơn vị trong và ngoài Đại học Quốc gia Hà Nội, nâng cao hiệu quả hoạt động hợp tác quốc tế vì mục tiêu đào tạo chất lượng cao, trình độ cao

            Để  phấn đấu trở thành một trong những cơ sở hàng đầu của cả nước về đào tạo giáo viên, các nhà khoa học giáo dục, các nhà quản lý giáo dục chất lượng cao, trình độ cao ngang tầm các đại học tiên tiến trong khu vực và thế giới, Đảng bộ đã lãnh đạo, chỉ đạo nhà trường tăng cường mở rộng các mối quan hệ hợp tác, liên thông, liên kết với các cơ sở đào tạo trong ĐHQGHN, trong nước và các nước trong khu vực, trên thế giới. Công tác đối ngoại và hợp tác quốc tế được quan tâm chỉ đạo thường xuyên và sâu sát của Đảng bộ, vì đã được xác định là một trong những giải pháp quan trọng, con đường phát triển nhanh, mạnh và có hiệu quả của Trường Đại học Giáo dục.

            Về hợp tác quốc tế, trên cơ sở duy trì và phát triển các quan hệ truyền thống với  các trường đại học, viện nghiên cứu - các đối tác đã được xác lập quan hệ hợp tác trước đây, trong những năm gần đây, Trường Đại học Giáo dục đã thiết lập quan hệ hợp tác, thực hiện liên kết đào tạo quốc tế với một số đối tác mới: Đại học Dalarna (Thụy Điển), Đại học Vanderbilt (Hoa Kỳ), Đại học Shu-Te (Đài loan), các trường đại học Caen, Montpellier 2 (Pháp) và gần đây nhất là Đại học Sư phạm Đông Bắc (Trung Quốc).  Hoạt động hợp tác quốc tế ngày càng đa dạng, phong phú, đã đạt được những thành tích đáng khích lệ, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn và ngoại ngữ cho đội ngũ cán bộ; góp phần tăng cường trang thiết bị hiện đại, tài liệu giảng dạy, học tập cho cán bộ, sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh; nâng cao vị thế xã hội và quốc tế của Trường Đại học Giáo dục.

            Hạn chế trong lĩnh vực này là sự phối hợp giữa Trường Đại học Giáo dục và các trường đại học thành viên ĐHQGHN chưa đạt hiệu quả như yêu cầu cần có; các nguồn lực đối ứng cho các đề tài, dự án hợp tác quốc tế còn ít và yếu, cần được sự quan tâm đầu tư của Nhà nước, của ĐHQGHN. Hạn chế yếu kém này đã bỏ lỡ không ít cơ hội hợp tác với các đại học có uy tín quốc tế cao.

2.5. Huy động mọi nguồn lực, đầu tư có trọng tâm trọng điểm về cơ sở vật chất theo hướng hiện đại hoá, đáp ứng tốt điều kiện thành lập Trường Đại học Giáo dục

            Chủ trương của Đảng ủy trong công tác phát triển cơ sở vật chất là tập trung ưu tiên đầu tư hoàn thành xây dựng nhà Co và triển khai một số dự án đầu tư chiều sâu để có đủ điều kiện cơ sở vật chất ban đầu cho việc thành lập Trường Đại học Giáo dục. Đây được coi là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu về công tác phát triển cơ sở vật chất trong những năm qua. Đồng thời, để đảm bảo duy trì các hoạt động thường xuyên, đảm bảo các điều kiện cần thiết cho việc hoàn thành các nhiệm vụ đào tạo và nghiên cứu khoa học của nhà trường, trong những năm qua, Đảng bộ đã lãnh đạo, chỉ đạo nhà trường tiếp tục đầu tư sửa chữa, nâng cấp khu hành chính, giảng đường, lớp học trong điều kiện còn rất chật hẹp ở nhà G1, G7, G8. Ngoài ra, Đảng bộ đã lãnh đạo, chỉ đạo nhà trường tích cực tham gia xây dựng cơ sở vật chất theo quy hoạch của Dự án QH-07 của ĐHQGHN tại Hòa Lạc.

            Bằng nguồn thu bổ sung, cơ sở vật chất trang thiết bị phục vụ đào tạo của nhà trường đã được đầu tư đáng kể, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn hiện tại chưa có điều kiện để chuyển lên cơ sở mới tại Hòa Lạc.

            Công tác quản lý tài chính được Đảng bộ thường xuyên quan tâm chỉ đạo thực hiện, đảm bảo thực hiện đúng quy định của Nhà nước và của ĐHQGHN. Chi tiêu tài chính trong nhà trường được thực hiện theo Quy chế chi tiêu nội bộ. Quy chế được xây dựng theo đúng chỉ đạo, hướng dẫn của ĐHQGHN, đảm bảo minh bạch, công khai, dân chủ và được điều chỉnh, bổ sung, hoàn thiện qua các Hội nghị cán bộ, viên chức hàng năm.

            Hạn chế của công tác này là diện tích sử dụng để phục vụ công tác quản lý, điều hành và các hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học của cán bộ, sinh viên còn rất hạn hẹp; việc chấp hành chế độ hoàn chứng từ thanh quyết toán của một số cán bộ chủ trì đề tài, dự án chưa được thực hiện nghiêm túc; tình trạng để quá hạn chưa chấm dứt do có nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân chủ yếu và cơ bản là do nhà trường chưa có chế tài thưởng - phạt cần thiết.

2.6.  Phát huy vai trò của các tổ chức đoàn thể (Công đoàn, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh) trong việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị của nhà trường

             Đảng bộ thường xuyên làm việc với Ban chấp hành Công đoàn, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh để nghe báo cáo về tình hình hoạt động và chỉ đạo xây dựng chương trình, kế hoạch công tác. Được sự chỉ đạo thường xuyên của Đảng bộ, các tổ chức đoàn thể hoạt động nền nếp, hiệu quả và đạt kết quả tốt, góp phần tích cực thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ trọng tâm xây dựng và phát triển nhà trường. Đảng bộ quan tâm chỉ đạo, tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức đoàn thể hoạt động theo đúng Điều lệ của tổ chức mình, chủ động tham gia giao lưu học hỏi kinh nghiệm với các tổ chức đoàn thể trong và ngoài ĐHQGHN, với các tổ chức đoàn thể thành phố Hà Nội và của ngành, của Trung ương theo chỉ đạo chung của các tổ chức đoàn thể ĐHQGHN.

            Đảng bộ đã lãnh đạo, chỉ đạo các tổ chức đoàn thể kiện toàn tổ chức bộ máy phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ mới sau khi Trường Đại học Giáo dục được thành lập; tổ chức kiểm tra, giám sát việc chấp hành các quy chế, quy định của ĐHQGHN và của nhà trường; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; đổi mới phương thức hoạt động và đánh giá chất lượng theo sản phẩm cuối cùng.

            Công đoàn đã chủ động xây dựng các chương trình kế hoạch công tác, tham gia tích cực các hoạt động chung, các phong trào, các cuộc vận động của Công đoàn ngành Giáo dục - Đào tạo, của ĐHQGHN và của nhà trường; động viên cán bộ thực hiện tốt các nhiệm vụ chính trị của đơn vị; bảo vệ quyền lợi chính đáng và chăm lo đời sống vật chất, tinh thần của cán bộ. Với thành tích đã đạt được trong những năm qua, Công đoàn Trường Đại học Giáo dục được nhận Cờ thi đua của Công đoàn Giáo dục Việt Nam, 03 đoàn viên công đoàn được tặng thưởng Bằng khen của Chủ tịch Công đoàn Giáo dục Việt Nam.

            Đoàn TNCS Hồ Chí Minh là chỗ dựa tin cậy của tổ chức Đảng trong công tác thanh niên, sinh viên; hoạt động phong trào của Đoàn gắn kết hữu cơ với việc học tập, rèn luyện của sinh viên; bước đầu tìm ra những hoạt động thích hợp, đặc biệt là nội dung sinh hoạt chi đoàn trong những điều kiện, hoàn cảnh mới khi chuyển sang phương thức đào tạo theo tín chỉ. Hàng năm, Đoàn trường được công nhận là cơ sở đoàn khá và tốt; năm 2008 có 01 đoàn viên và năm 2009 có 03 đoàn viên được tôn vinh "Gương mặt trẻ tiêu biểu ĐHQGHN".

Tuy nhiên, công tác lãnh đạo các tổ chức đoàn thể của Đảng bộ có một số hạn chế: Chưa chỉ đạo Đoàn trường thành lập Hội Sinh viên; Công đoàn và Đoàn trường  chưa xây dựng được quy chế phối hợp hoạt động trong mô hình mới; hoạt động của Đoàn trường còn nghèo nàn về nội dung, chưa thu hút được đa số đoàn viên sinh viên tham gia trong một số hoạt động cụ thể, do đó hiệu quả hoạt động chưa tương xứng với tiềm năng của tổ chức.

2.7. Xây dựng Đảng bộ trong sạch, vững mạnh

            Giai đoạn vừa qua đánh dấu sự phát triển của Đảng bộ Trường Đại học Giáo dục về cơ cấu tổ chức và đội ngũ đảng viên. Từ chi bộ trực thuộc Đảng bộ ĐHQGHN đã phát triển thành Đảng bộ trực thuộc Đảng bộ ĐHQGHN. Việc thành lập Đảng bộ nhà trường đã góp phần đảm bảo vai trò lãnh đạo toàn diện của tổ chức Đảng trong những điều kiện mới.

            Trong quá trình chỉ đạo, Đảng bộ luôn bám sát chương trình kế hoạch công tác của Đảng uỷ ĐHQGHN. Chỉ đạo Ban Chủ nhiệm Khoa Sư phạm trước đây và Ban Giám hiệu hiện nay xây dựng kế hoạch nhiệm vụ trọng tâm từng năm học. Định kỳ từng quý (3 tháng/1 lần) tổ chức hội nghị cán bộ toàn trường sơ kết, đánh giá, rút kinh nghiệm việc thực hiện kế hoạch nhiệm vụ và chỉ tiêu đã đề ra. Chỉ đạo định kỳ tổ chức đối thoại với cán bộ, sinh viên để giải quyết kịp thời những vấn đề phát sinh, bức xúc, bất cập trong quá trình thực hiện kế hoạch nhiệm vụ năm học.

            Đảng bộ đặt chỉ tiêu phấn đấu đạt danh hiệu "Tổ chức Đảng trong sạch vững mạnh tiêu biểu" của Đảng bộ ĐHQGHN. Đảng bộ đã lãnh đạo, chỉ đạo triển khai đồng bộ các hoạt động trong toàn Đảng bộ và đã đạt được chỉ tiêu phấn đấu này trong 3 năm liên tục (2006, 2007, 2008).

            Đảng bộ thường xuyên chỉ đạo các chi bộ đề cao vai trò hạt nhân lãnh đạo, xây dựng khối đoàn kết nhất trí trong từng chi bộ và toàn Đảng bộ, nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, trọng tâm là đề ra được phương hướng, nhiệm vụ và các giải pháp cụ thể để phát triển đơn vị, góp phần xây dựng và phát triển bền vững nhà trường. Đảng bộ đã lãnh đạo, chỉ đạo các chi bộ thực hiện tốt cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh", gắn kết cuộc vận động này với các hoạt động chuyên môn học thuật và các phong trào thi đua trong đơn vị thông qua các chương trình công tác cụ thể.

            Chỉ đạo thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, chế độ tự phê bình và phê bình. Luôn quan tâm tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng, nhắc nhở đảng viên rèn luyện phẩm chất đạo đức, thể hiện tính tiên phong, gương mẫu của người đảng viên, đấu tranh kiên quyết với những biểu hiện tiêu cực, trì trệ, thoái hoá biến chất; phấn đấu trong toàn Đảng bộ không có đảng viên, chi bộ yếu kém; giữ vững danh hiệu Đảng bộ trong sạch, vững mạnh.

            Đảng bộ thực hiện tốt công tác quản lý cán bộ, đảng viên và công tác kiểm tra đảng; luôn coi trọng công tác đánh giá, phân loại cán bộ căn cứ vào mức độ hoàn thành thể hiện ở kết quả, hiệu quả thực hiện các nhiệm vụ chính trị, ý thức chấp hành các chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng, phát luật của Nhà nước. Việc đánh giá phân loại đảng viên hàng năm gắn liền với việc đánh giá thực hiện cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh". 100% đảng viên và chi bộ được quần chúng, các tổ chức đoàn thể và Đảng uỷ đánh giá làm tốt vai trò lãnh đạo, gương mẫu trong công tác và không có đảng viên nào vi phạm kỷ luật Đảng. 100% đảng viên đã được giới thiệu để thường xuyên giữ mối liên hệ với tổ chức đảng nơi cư trú. Đảng uỷ đã triển khai lấy phiếu đánh giá đảng viên sinh hoạt hai chiều; kết quả là 100% các phiếu đánh giá đảng viên thực hiện tốt Điều lệ Đảng và làm tốt nghĩa vụ công dân nơi cư trú.

            Đảng bộ chỉ đạo làm tốt công tác phát triển đảng trong cán bộ và sinh viên. Đảng bộ luôn chú trọng đến chất lượng đội ngũ đảng viên mới kết nạp. Hàng năm, Đảng bộ lựa chọn và cử quần chúng tích cực đi học các lớp bồi dưỡng nâng cao nhận thức về Đảng do Đảng uỷ ĐHQGHN tổ chức. Trong nhiệm kỳ 2005 - 2010, Đảng bộ đã kết nạp được 26 đảng viên mới, trong đó có 7 đảng viên là cán bộ, 19 đảng viên là sinh viên.

Hạn chế trong công tác xây dựng Đảng: Đảng uỷ chưa cụ thể hoá chi tiết tiêu chuẩn đánh giá chất lượng đảng viên phù hợp với đặc điểm hoạt động của Đảng bộ, đặc biệt với tiêu chuẩn đảng viên đủ tư cách, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ áp dụng đối với đảng viên là sinh viên; việc kết nạp đảng viên đối với sinh viên thường được tiến hành khi sinh viên chuẩn bị tốt nghiệp, điều đó dẫn tới vai trò của đảng viên mới đối với tập thể sinh viên chưa được phát huy. Số cán bộ được kết nạp đảng chưa cao. Cần có giải pháp đổi mới nội dung và nâng cao chất lượng, hiệu quả sinh hoạt chi bộ; tăng cường thảo luận, tranh luận để thống nhất ý kiến và ra nghị quyết phù hơp với yêu cầu cho từng kế hoạch nhiệm vụ trong những giai đoạn cụ thể.

2.8.  Đánh giá chung và những bài học kinh nghiệm

            Đảng bộ nhà trường đã lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện các hoạt động của nhà trường. Đảng bộ đã lãnh đạo nhà trường vượt qua nhiều khó khăn, thử thách trong những điều kiện mô hình đại học mới về đào tạo các nhà giáo, nhà khoa học quản lý giáo dục chưa có trong tiền lệ ở Việt Nam.

            Các chỉ tiêu theo Nghị quyết đại hội chi bộ Khoa Sư phạm - tiền thân của Trường Đại học Giáo dục đã được hoàn thành thắng lợi, trong đó đặc biệt cần nhấn mạnh là toàn Đảng bộ đã xây dựng và phát triển thành công Khoa Sư phạm trở thành Trường Đại học Giáo dục - trường đại học thành viên của ĐHQGHN.

            Có được những thành tựu nêu trên, trước hết là sự đoàn kết, đồng thuận cao, tinh thần năng động, sáng tạo, ý thức trách nhiệm cao của toàn thể cán bộ, đảng viên trong Đảng bộ. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, Đảng bộ Trường Đại học Giáo dục luôn nhận được sự quan tâm chỉ đạo trực tiếp, có hiệu quả của Đảng uỷ ĐHQGHN, sự cộng tác của các trường đại học thành viên, đơn vị trực thuộc ĐHQGHN, sự quan tâm hợp tác của các đối tác trong nước và quốc tế.

            Từ thực tiễn lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ trong những năm 2005 - 2010, có thể rút ra được những bài học kinh nghiệm sau đây:

Một là, Phát huy vai trò lãnh đạo tuyệt đối của Đảng bộ trong từng lĩnh vực hoạt động của nhà trường; sự phối kết hợp chặt chẽ giữa chính quyền và các tổ chức đoàn thể là nhân tố bảo đảm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ của Đảng bộ và nhà trường.

Hai là, Nghị quyết của Đảng các cấp phải được quán triệt sâu sắc và cụ thể hoá thành các chương trình, kế hoạch công tác dài hạn, trung hạn, ngắn hạn với sự tham gia nhiệt tình và trách nhiệm cao của đông đảo cán bộ, sinh viên,, trong đó trước hết là toàn thể đảng viên trong đảng bộ.

Ba là, cần có cơ chế khuyến khích, động viên các tập thể, cá nhân phát huy tính sáng tạo, chủ động trong xây dựng và triển khai thực hiện các chương trình, kế hoạch công tác của Đảng bộ và nhà trường. Đó là nhân tố bảo đảm tính hiệu quả cao và bền vững của các kết quả công tác.

Bốn là, khai thác triệt để những thuận lợi của mô hình đại học đa ngành, đa lĩnh vực và cơ chế quản lý tự chủ cao, trách nhiệm cao. Đẩy mạnh liên thông, liên kết với các đơn vị thành viên, trực thuộc ĐHQGHN trong các hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học, xây dựng văn hoá chất lượng, văn hoá cộng đồng ĐHQGHN.

Năm là, không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, năng lực lãnh đạo, tính tiên phong gương mẫu của cán bộ, đảng viên; tăng cường công tác xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh và thường xuyên quan tâm củng cố hệ thống tổ chức, đặc biệt công tác cán bộ; tăng cường sự đoàn kết, thống nhất cao trong toàn đảng bộ bằng những giải pháp hết sức linh hoạt trong từng lĩnh vực hoạt động, từng hoàn cảnh cụ thể nhưng đảm bảo tính nguyên tắc Đảng.


Phần thứ hai

MỤC TIÊU VÀ NHỮNG NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP CƠ BẢN CỦA ĐẢNG BỘ NHIỆM KỲ 2010 - 2015

 

Đại hội lần thứ nhất Đảng bộ Trường Đại học Giáo dục có nhiệm vụ xác định mục tiêu, phương hướng tổng quát, kế hoạch chiến lược phát triển đến năm 2020 và những mục tiêu, nhiệm vụ trọng yếu giai đoạn 2010 - 2015.

            Kế thừa truyền thống 10 năm xây dựng và phát triển Khoa Sư phạm trực thuộc ĐHQGHN, Trường Đại học Giáo dục đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng và có nhiều bài học kinh nghiệm cho sự phát triển trong giai đoạn mới.

            Bước vào thời kỳ phát triển mới, Trường Đại học Giáo dục có nhiều điều kiện thuận lợi: Đảng, Nhà nước đặc biệt quan tâm phát triển giáo dục - đào tạo, vị thế ĐHQGHN tiếp tục được khẳng định trên trường quốc tế. Hơn nữa, mô hình phát triển, cơ chế quản trị đại học tiên tiến đối với ĐHQGHN không những đã được khẳng định, mà còn tiếp tục được hoàn thiện hơn nữa trong xu thế hội nhập quốc tế. ĐHQGHN tiếp tục phân cấp mạnh cho các trường thành viên, đơn vị trực thuộc trong mối quan hệ biện chứng, hữu cơ, liên thông, liên kết trong mọi lĩnh vực đào tạo, nghiên cứu khoa học đỉnh cao. Trường Đại học Giáo dục ra đời sau các trường đại học thành viên khác thuộc ĐHQGHN nên có điều kiện học hỏi, rút kinh nghiệm ngay từ những quy trình đầu tiên là xác định mục tiêu chiến lược phát triển cho đến quy trình tổ chức thực hiện, hiện thực hoá các ý tưởng trong thực tiễn. Trường Đại học Giáo dục đang trực tiếp quản lý đội ngũ cán bộ cơ hữu trẻ trung, đầy sức sáng tạo, tâm huyết với sự nghiệp đào tạo "Người Thầy cho ngày mai".

            Bên cạnh những thuận lợi cơ bản nêu trên, Trường Đại học Giáo dục đang đối mặt với một số khó khăn, thách thức: Thiếu hụt đội ngũ cán bộ khoa học đầu ngành, đầu đàn; tỷ lệ giảng viên có chức danh giáo sư, phó giáo sư và trình độ tiến sĩ còn thấp so với các đại học tiên tiến trong khu vực và trên thế giới; cơ sở vật chất còn hạn hẹp, chưa đáp ứng yêu cầu đào tạo chất lượng cao, trình độ cao; thu nhập tăng thêm của cán bộ, viên chức còn thấp; sự cạnh tranh cao giữa các trường đại học trong hệ thống giáo dục đại học trong nước.

            Trong bối cảnh đó, Trường Đại học Giáo dục xác định mục tiêu chiến lược phải phấn đấu vượt qua thách thức, đồng thời tận dụng những thời cơ, vận hội mới để phát triển trở thành trường đại học nghiên cứu chất lượng cao, trình độ cao ngang tầm các đại học tiến tiến trong khu vực, tiến tới đạt trình độ quốc tế, góp phần tích cực xây dựng và phát triển ĐHQGHN xứng tầm với kỳ vọng của Đảng, Nhà nước và xã hội.

Trước mắt, trong giai đoạn 2010 - 2015, mục tiêu của Đảng bộ trong nhiệm kỳ này là tiếp tục phát huy những thành tựu đã đạt được trong 10 năm qua, huy động hiệu quả mọi nguồn lực, tạo những bước đột phá về xây dựng đội ngũ cán bộ, chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học, nâng cao vị thế và uy tín trong hệ thống giáo dục đại học trong nước và trên thế giới, thực hiện khẩu hiệu hành động "Người Thầy cho ngày mai", góp phần phục vụ sự nghiệp phát triển ĐHQGHN.

Để đạt được mục tiêu nêu trên, với khẩu hiệu hành động "Chủ động - Sáng tạo - Chất lượng cao - Trình độ cao ",  phương hướng nhiệm kỳ 2010 - 2015 của Đảng bộ Trường đại học Giáo dục là:

1. Xây dựng Đảng bộ vững mạnh về chính trị, có đủ bản lĩnh, năng lực lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng và phát triển Trường Đại học Giáo dục trở thành trường đại học nghiên cứu tiên tiến.

2. Hoàn thiện cơ cấu tổ chức, củng cố và nâng cao chất lượng đào tạo các ngành/chuyên ngành hiện có hướng tới đạt trình độ tiên tiến trong khu vực và thế giới; chọn lọc xây dựng một số ngành/chuyên ngành đào tạo mới, phù hợp với mục tiêu đào tạo chất lượng cao, trình độ cao, đáp ứng nhu cầu xã hội nói chung và ngành giáo dục và đào tạo nói riêng.

3. Tiếp tục cập nhật các chương trình đào tạo hiện có đổi mới phương pháp dạy và học, nâng cao kỹ năng thực hành sư phạm, năng lực sử dụng ngoại ngữ như một công cụ bắt buộc; kết hợp trang bị kiến thức, kỹ năng chuyên môn học thuật với giáo dục bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp "Người Thầy cho ngày mai" và các kỹ năng mềm cho sinh viên. Tạo dựng sự liên kết chặt chẽ với các đối tác trung học phổ thông.

4. Khuyến khích và ưu tiên đầu tư nâng cao giá trị khoa học và thực tiễn của các kết quả và sản phẩm nghiên cứu khoa học; xây dựng một số nhóm nghiên cứu mạnh, đậm nét thương hiệu "Trường Đại học Giáo dục".

5. Duy trì và phát huy tác dụng của công tác đảm bảo chất lượng, tham gia tích cực vào công tác kiểm định đối với hoạt động của Trường Đại học Giáo dục.

6. Mở rộng tầm ảnh hưởng của Trường Đại học Giáo dục đối với các đối tác và các cơ sở giáo dục và đào tạo trong và ngoài nước

Theo những phương hướng nêu trên, trong nhiệm kỳ 2010- 2015, Đảng bộ sẽ tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt các nhiệm vụ trọng tâm sau đây:

1. Đổi mới cơ chế quản lý, quản trị đại học tiên tiến, đẩy mạnh các hoạt động đảm bảo chất lượng, xây dựng và phát triển Trường Đại học Giáo dục theo hướng đại học nghiên cứu

            Đảng bộ lãnh đạo, chỉ đạo nhà trường tiên phong thực hiện cơ chế quản lý, quản trị đại học tiên tiến. Kế hoạch nhiệm vụ hàng năm và từng đầu công việc cụ thể trong năm học đều phải được đánh giá, kiểm định chất lượng bằng các chỉ tiêu, tiêu chí cụ thể.

            Đảm bảo chất lượng là hoạt động thường xuyên trong mọi lĩnh vực đào tạo, nghiên cứu khoa học, quản lý và điều hành ở tất cả các cấp từ cấp trường đến cấp các đơn vị, bộ môn, bộ phận công tác.

            Thực hiện phân công, phân cấp quản lý mạnh mẽ gắn với giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm xã hội cao đối với các khoa, đơn vị đào tạo và nghiên cứu trên cơ sở đảm bảo liên thông, liên kết hữu cơ giữa các đơn vị, giữa các bộ phận công tác trong việc triển khai từng nhiệm vụ chính trị cụ thể.

2. Phát triển đội ngũ cán bộ theo hướng chuẩn hoá

            Đảng bộ xác định công tác cán bộ là điều kiện quyết định chất lượng của nhà trường. Phát triển đội ngũ cán bộ theo hướng chuẩn hoá, có bản lĩnh chính trị, kiên định đường hướng chiến lược phát triển nhà trường, có năng lực, trình độ chuyên môn cao, không ngừng trao dồi kiến thức chuyên môn nghiệp vụ, cộng đồng trách nhiệm, hợp tác và trên hết luôn luôn vì "Người Thầy cho ngày mai" là nhiệm vụ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong công tác cán bộ.

            Thực hiện đổi mới phương pháp đánh giá cán bộ, một mặt cần phải nắm vững và dựa vào tiêu chuẩn cán bộ theo quy định của ĐHQGHN, đồng thời phải thực sự lấy hiệu quả công tác và sự đóng góp thực tế làm thước đo phẩm chất và năng lực cán bộ.

            Thực hiện các giải pháp, chính sách thu hút cán bộ giỏi, có trình độ cao về trường công tác. Tạo môi trường phát triển chuyên môn học thuật với những cơ chế quản lý thích hợp, tạo điều kiện cho đội ngũ cán bộ, đặc biệt là cán bộ giảng dạy phấn đấu trở thành cán bộ đầu ngành, đầu đàn.

            Phát triển đội ngũ cán bộ cả về số lượng và chất lượng, trong đó chú trọng nâng cao chất lượng cán bộ. Phấn đấu đạt tỷ lệ 100% cán bộ giảng dạy có học vị trên đại học (tiến sĩ, thạc sĩ), trong đó hàng năm tăng dần số cán bộ có chức danh GS, PGS và học vị tiến sĩ. Phấn đấu đến năm 2015, GS, PGS đạt 25% (hiện tại đạt 20%), TS đạt 80% (hiện tại đạt 52,5%) trên tổng số cán bộ giảng dạy. Trong 20%  số cán bộ giảng dạy còn lại dành 10 % tuyển dụng sinh viên tốt nghiệp xuất sắc, giỏi đủ điều kiện chuyển tiếp sinh để chủ động đào tạo đội ngũ cán bộ giảng dạy kế cận. Phấn đấu đến năm 2015, 100% cán bộ khối phòng ban chức năng được bồi dưỡng cấp chứng chỉ nghiệp vụ quản lý hành chính nhà nước ngạch chuyên viên và tương đương, trong đó 50% được bồi dưỡng cấp chứng chỉ ngạch chuyên viên chính và tương đương.

3. Gia tăng quy mô gắn liền với nâng cao chất lượng đào tạo, đặc biệt là đào tạo sau đại học hướng tới đạt các chuẩn  khu vực, quốc tế

            Phấn đấu đến năm 2015, quy mô đào tạo đại học đạt 1.500 sinh viên/năm, quy mô đào tạo sau đại học đạt 500 học viên cao học, nghiên cứu sinh / năm. Việc mở rộng quy mô chỉ được thực hiện trên cơ sở đảm bảo nguyên tắc và điều kiện tiên quyết đảm bảo chất lượng đào tạo.

Lựa chọn đầu tư xây dựng mở 3 - 4 ngành / chuyên ngành đào tạo mới bậc đại học và sau đại học phù hợp với tiềm năng, lợi thế của nhà trường mà các trường đại học khác ít có điều kiện đào tạo hoặc không có điều kiện phát triển theo hướng đào tạo chất lượng cao.

Đẩy mạnh đổi mới phương pháp giảng dạy và kiểm tra đánh giá theo mục tiêu của đào tạo theo tín chỉ; tăng cường tính chủ động của sinh viên trong các hoạt động tự học, tự nghiên cứu, nghe và thảo luận báo cáo chuyên đề; quản lý tốt việc học tập của sinh viên trên lớp; nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học của sinh viên; phấn đấu hàng năm có sinh viên đoạt giải thưởng nghiên cứu khoa học cấp Bộ / cấp ĐHQGHN.

Tăng cường tích hợp đào tạo sau đại học với nghiên cứu khoa học nhằm nâng cao chất lượng đào tạo sau đại học, gắn kết hoạt động này ngay từ khâu xây dựng đề tài nghiên cứu khoa học, đề cương luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ. Chủ trương này cần được pháp quy hoá trở thành yêu cầu bắt buộc và là điều kiện tiên quyết trong việc xét duyệt đề tài nghiên cứu khoa học, luận án, luận văn.

Đẩy mạnh công tác kiểm định chất lượng các chương trình đào tạo. Phấn đấu đến năm 2015, 100% chương trình đào tạo chuẩn bị tham gia kiểm định theo kế hoạch của Đại học Quốc gia Hà Nội, trong đó có ít nhất 01 chương trình được kiểm định theo tiêu chuẩn khu vực hoặc quốc tế.

Tiếp tục mở rộng quy mô và tăng cường hiệu quả liên kết đào tạo quốc tế; khuyến khích các nhà khoa học, cán bộ giảng dạy của trường tham gia các dự án, chương trình liên kết đào tạo quốc tế tiến tới làm chủ chương trình đào tạo, nâng cao vị thế của nhà trường.

Tăng cường hiệu quả ứng dụng công nghệ thông tin, truyền thông vào dạy - học, quản lý, nghiên cứu khoa học và dịch vụ xã hội, trọng tâm là tin học hoá tối đa công tác quản lý, xây dựng bài giảng điện tử, hệ thống phần mềm và hạ tầng công nghệ thông tin phục vụ dạy và học điện tử.

4. Xây dựng một số nhóm nghiên cứu mạnh; gia tăng giá trị nghiên cứu khoa học đáp ứng mục tiêu sứ mệnh phát triển Trường Đại học Giáo dục

            Để phát triển Trường Đại học Giáo dục theo hướng đại học nghiên cứu, trong giai đoạn 2010 - 2020, Đảng bộ chú trọng các tiêu chí chất lượng và hiệu quả nghiên cứu khoa học; ưu tiên đầu tư cho nghiên cứu khoa học đỉnh cao để có một số sản phẩm tầm cỡ khu vực, quốc tế có giá trị thực tiễn cao.

Trước mắt trong nhiệm kỳ 2010 - 2015, tập trung nguồn lực đầu tư cho các nhà khoa học, cán bộ giảng dạy tham gia các đề tài, dự án lớn của ĐHQGHN, của Bộ Giáo dục và Đào tạo; ưu tiên đầu tư đặc biệt để xây dựng thành công các nhóm nghiên cứu mạnh trên cơ sở liên thông, liên kết giữa các khoa đào tạo, trung tâm nghiên cứu thuộc trường.

Thực hiện đổi mới công tác xây dựng kế hoạch khoa học - công nghệ của Trường Đại học Giáo dục. Trên cơ sở định hướng chiến lược hoạt động khoa học - công nghệ của Nhà nước, của ĐHQGHN, triển khai xây dựng kế hoạch chi tiết phù hợp với điều kiện, năng lực hoạt động khoa học - công nghệ và hướng ưu tiên phát triển của nhà trường.

Tăng cường tiềm lực khoa học - công nghệ, bao gồm nguồn nhân lực, cơ sở vật chất, trang thiết bị hiện đại. Đa dạng hoá nguồn kinh phí cho hoạt động nghiên cứu khoa học; mở rộng liên kết nghiên cứu với các đơn vị trong ĐHQGHN, với các ngành, địa phương trong nước và các đối tác quốc tế.

5. Nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác quốc tế trong các hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học; nâng cao vị thế quốc tế của Trường Đại học Giáo dục

            Củng cố và tăng cường khai thác có hiệu quả những quan hệ quốc tế đã có, mở rộng có chọn lọc các quan hệ hợp tác mới nhằm tiếp cận các thành tựu khoa học giáo dục tiên tiến, tranh thủ cơ hội đầu tư về trang thiết bị hiện đại và đào tạo nâng cao trình độ cán bộ, đặc biệt là đối với những hướng ưu tiên phát triển nhà trường. Hợp tác quốc tế cần chú trọng đến hiệu quả thiết thực và nâng cao vị thế của Trường Đại học Giáo dục, phát huy ảnh hưởng của Trường Đại học Giáo dục đối với cộng đồng giáo dục đại học khu vực, quốc tế.

            Xây dựng kế hoạch mở rộng hợp tác quốc tế và xác lập cơ chế quản lý, liên thông, liên kết, phối hợp hoạt động hợp tác quốc tế giữa phòng chức năng, các khoa đào tạo, trung tâm nghiên cứu, đơn vị trực thuộc trường nhằm khơi dậy mọi tiềm năng, khuyến khích, động viên các nhà khoa học, cán bộ giảng dạy tham gia tích cực hơn vào hoạt động hợp tác quốc tế.

            Xây dựng cơ chế hợp tác và khai thác ngồn thông tin quốc tế để phát huy hơn nữa hiệu quả hợp tác quốc tế. Khuyến khích các nhà khoa học, cán bộ giảng dạy làm công tác hợp tác quốc tế nhằm tạo ra mạng lưới cộng tác viên trong hợp tác quốc tế với chính sách động viên, khen thưởng kịp thời; đồng thời nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chuyên trách.

6. Nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác chính trị tư tưởng

            Đảng bộ lãnh đạo công tác chính trị tư tưởng theo nguyên tắc Đảng chỉ đạo, chính quyền tổ chức thực hiện và các tổ chức đoàn thể quần chúng phối hợp thực hiện. Công tác chính trị tư tưởng cần hướng tới xây dựng văn hoá cộng đồng, văn hoá chất lượng; hợp tác chặt chẽ và toàn diện với các trường đại học thành viên, đơn vị trực thuộc ĐHQGHN; xây dựng ý thức tự hào và trách nhiệm, tinh thần đoàn kết nhất trí của cán bộ, sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển nhà trường trong ĐHQGHN.

            Cần bám sát hơn nữa tình hình và nhu cầu thực tiễn để đề ra những giải pháp, biện pháp giáo dục chính trị tư tưởng thích hợp, tránh hình thức. Đổi mới hình thức, nội dung chương trình, phương pháp phổ biến, học tập nghị quyết theo hướng đa dạng, sinh động, phù hợp với từng đối tượng. Lồng ghép nội dung giáo dục chính trị tư tưởng và cuộc vận động "Học tập là làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" vào nội dung giảng dạy các môn học và các hoạt động văn hoá, xã hội, đoàn thể. Thường xuyên quan tâm phát hiện, xử lý kịp thời vấn đề tư tưởng cho đội ngũ cán bộ, sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh trong tình hình mới. Định kỳ tổ chức các cuộc đối thoại giữa lãnh đạo nhà trường, các đơn vị trực thuộc với cán bộ, sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh.

Phấn đấu hàng năm duy trì tỷ lệ 100% cán bộ, sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh thực hiện tốt chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, quy chế, quy định của ĐHQGHN và nhà trường.   

7. Tăng cường công tác cơ sở vật chất đáp ứng yêu cầu đào tạo, nghiên cứu khoa học trình độ cao, chất lượng cao; chăm lo đời sống vật chất, tinh thần của cán bộ, sinh viên

            Kết hợp chặt chẽ, đảm bảo tính thống nhất giữa lập kế hoạch và dự toán ngân sách hàng năm; đánh giá hiệu quả thực hiện kế hoạch gắn với các chỉ tiêu tài chính.

            Quán triệt sâu sắc chủ trương của ĐHQGHN giao quyền tự chủ cao cho các trường đại học thành viên gắn với trách nhiệm xã hội cao; nghiên cứu hoàn thiện phương thức phân bổ kế hoạch kinh phí gắn với chỉ tiêu nhiệm vụ cho các khoa đào tạo, đơn vị trực thuộc trường, tạo điều kiện cho các khoa, các đơn vị chủ động trong việc triển khai thực hiện các nhiệm vụ chính trị.

            Khai thác có hiệu quả các nguồn đầu tư của ĐHQGHN, của xã hội và các nguồn tài trợ của đối tác nước ngoài. Khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho các khoa đào tạo, các trung tâm, đơn vị trực thuộc trường mở rộng các hoạt động thu hút đầu tư và các nguồn thu bổ sung thông qua các dự án, hợp đồng liên kết đào tạo, nghiên cứu, ứng dụng và triển khai khoa học - công nghệ với các cơ sở đào tạo, nghiên cứu, các bộ, ban ngành Trung ương, các địa phương; có chế độ khuyến khích thoả đáng đối với các tập thể, cá nhân có đóng góp hiệu quả làm tăng các nguồn thu bổ sung cho nhà trường.

            Cải tạo, nâng cấp cơ sở vật chất ở khu vực Cầu Giấy và Mễ Trì đảm bảo diện tích sử dụng tăng thêm 500 - 800 m2; xây dựng mới ít nhất 01 dự án tăng cường năng lực khoa học - công nghệ nhằm nâng cấp trang thiết bị đáp ứng yêu cầu cao về đào tạo, nghiên cứu khoa học.

8. Phát huy vai trò và sức mạnh của chính quyền và các tổ chức đoàn thể Công đoàn, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh

            Đảng bộ lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng hệ thống chính quyền vững mạnh. Thực hiện tốt công tác quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý, chuyên môn và bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo quản lý cấp trường, khoa, bộ môn theo đúng quy định của ĐHQGHN. Hoàn thiện quy trình giải quyết các loại công việc, xây dựng phong cách làm việc chính quy, hiện đại, hiệu quả; xây dựng văn hoá chất lượng trong mọi hoạt động của nhà trường.

Đảng bộ chỉ đạo phối hợp chặt chẽ hoạt động của chính quyền, các tổ chức đoàn thể; phát huy dân chủ, thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở; xây dựng cơ chế để chính quyền và các tổ chức đoàn thể tham gia trực tiếp nhiều hơn nữa trong công tác xây dựng Đảng bộ.

            Đổi mới nội dung và phương thức hoạt động của các tổ chức đoàn thể dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ nhà trường; nâng cao chất lượng hoạt động của các tổ chức đoàn thể trong việc cụ thể hoá và triển khai thực hiện các chủ trương của Đảng bộ; tăng cường hơn nữa hiệu quả triển khai các phong trào thi đua, các cuộc vận động lớn của Đảng, Nhà nước, ngành Giáo dục và Đào tạo và của ĐHQGHN; nắm vững tâm tư nguyện vọng của quần chúng để có các giải pháp xử lý kịp thời.

            Chỉ đạo chính quyền phấn đấu hàng năm đạt danh hiệu "tiên tiến", trong đó ít nhất 2 - 3 năm đạt danh hiệu "tiên tiến xuất sắc"; Công đoàn đạt danh hiệu "Công đoàn cơ sở vững mạnh", trong đó ít nhất có 2 năm đạt danh hiệu "Công đoàn cơ sở vững mạnh tiêu biểu", Đoàn thanh niên đạt danh hiệu đơn vị tốt, trong đó ít nhất có 2 năm đạt danh hiệu đơn vị xuất sắc tiêu biểu.

9. Xây dựng Đảng bộ vững mạnh đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ mới

            Thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ, nâng cao chất lượng tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt đảng; xây dựng mối quan hệ phối hợp chặt chẽ giữa các tổ chức chính quyền, đoàn thể. Làm rõ cơ chế tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách và trách nhiệm của người đứng đầu cấp uỷ, chính quyền, đoàn thể cấp trường và cấp đơn vị trực thuộc trường. Tăng ường công tác kiểm tra tổ chức cơ sở Đảng, đảng viên thi hành điều lệ Đảng, thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, các chương trình và đề án công tác của Đảng uỷ.

            Thực hiện phong cách nói đi đôi với làm; chỉ đạo quyết liệt, cụ thể đối với các chi bộ cơ sở, nắm chắc thực tiễn, tiếp thu cái mới; quyết đoán, dám chịu trách nhiệm vì sự nghiệp chung của  toàn Đảng bộ nhà trường.

            Đẩy mạnh cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh". Củng cố các tổ chức chính quyền, đoàn thể vững mạnh, thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở. Thường xuyên quan tâm làm tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ, bảo vệ Đảng, quản lý cán bộ.

            Đảng bộ cần có giải pháp cụ thể nâng cao chất lượng đảng viên; giáo dục, rèn luyện, quản lý tốt đội ngũ đảng viên. Phát triển đảng viên theo đúng tiêu chuẩn quy định, coi trọng chất lượng; quan tâm những đơn vị còn ít đảng viên; phấn đấu bình quân mỗi năm kết nạp được 5 - 7 đảng viên; 85 - 90 % đảng viên đủ tư cách, hoàn thành tốt nhiệm vụ; 100% chi bộ đạt danh hiệu trong sạch, vững mạnh; Đảng bộ hàng năm đạt danh hiệu Đảng bộ trong sạch, vững mạnh, trong đó ít nhất có 2 năm đạt danh hiệu trong sạch, vững mạnh tiêu biểu trong khối các đảng bộ trường đại học thành viên ĐHQGHN.

            Căn cứ mục tiêu, định hướng, nhiệm vụ, chỉ tiêu của Nghị quyết Đại hội, Đảng uỷ lựa chọn và sớm xây dựng một số chương trình công tác lớn, trọng tâm, trọng điểm cho cả nhiệm kỳ 2010 - 2015. Từng chương trình công tác của Đảng uỷ phải xác định rõ yêu cầu, nhiệm vụ, các bước tiến hành, những điều kiện và giải pháp thực hiện. Quá trình xây dựng chương trình phải khảo sát thực tiễn, tranh thủ sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng uỷ ĐHQGHN, sự đóng góp của các chuyên gia, nhà khoa học, bảo đảm tính khả thi, thiết thực. Hàng năm phải rà soát, sơ kết để bổ sung, hoàn thiện các chương trình, kế hoạch, đề án phù hợp với tình hình thực tiễn xây dựng và phát triển nhà trường.

            Đại hội lần thứ nhất Đảng bộ Trường Đại học Giáo dục nhiệm kỳ 2010 - 2015 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, mở ra một giai đoạn mới phát triển nhà trường toàn diện, bền vững. Nhiệm vụ phía trước rất nặng nề, khó khăn, thử thách còn nhiều. Đại hội tin tưởng rằng với tinh thần đoàn kết - trí tuệ - dân chủ - kỷ cương - đổi mới, với đội ngũ cán bộ, đảng viên giàu năng lực, tâm huyết và có trách nhiệm cao, Đảng bộ Trường Đại học Giáo dục sẽ thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội.

            Đại hội kêu gọi toàn thể cán bộ, sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh Trường Đại học Giáo dục dưới sự lãnh đạo của Ban chấp hành Đảng bộ nhà trường đồng tâm, nhất trí, nỗ lực phấn đấu thực hiện thành công các mục tiêu, nhiệm vụ trọng tâm giai đoạn 2010 - 2015 theo Nghị quyết của Đại hội với tinh thần xây dựng và phát triển Trường Đại học Giáo dục theo định hướng đại học nghiên cứu, tất cả vì "Người Thầy cho ngày mai".




Tải file tại đây
<Về trước   Tiếp theo>
 
tuvantuyensinh2013.jpg
Banner
 
Banner
Banner
Banner
Banner
Banner

University of Education, Vietnam National Unversity, Hanoi
144 Xuân Thủy - Cầu Giấy - Hà Nội, Tel: 84.4.3754.7969, Fax: 84.4.3754.8092, Email: education@vnu.edu.vn

Developed by CCNE, 2008, Vietnam National Unversity, Hanoi
Do not send to: vanbach@vnu.edu.vn vanbach@coltech.vnu.vn delme@vnu.edu.vn delme@coltech.vnu.vn